Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là vị tướng và làm quan trải qua thời gian ba triều vua Nhà Lý; Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Ông nổi danh với việc chinh phạt Chiêm Thành năm 1069 và đánh bại cuộc xâm lăng Đại Việt của nhà Tống phương Bắc năm 1077.
Cha Lý Thường Kiệt là Thái Úy đời Vua Lý Thái Tông. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người có chí hướng và siêng năng rèn luyện cả văn lẫn võ. Hồi còn nhỏ, do tướng mạo tươi đẹp, ông được sung vào cung làm thái giám theo hầu Lý Thái Tông. Năm 1054, Vua Lý Thánh Tông phong chức và cho phép ở gần vua bàn chuyện nước. Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy phá. Ông được Vua Lý Thánh Tông sai đi chinh phạt. Ông dùng nhân tâm thu phục lòng dân và cuối cùng cả các châu đều quy phục.
Năm 1069, ông theo Vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt tiên phong đi đầu và bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Chế Củ phải chịu hàng và dâng 3 châu (Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh, thuộc phía bắc Quảng Bình đến Quảng Trị ngày nay) để được tha về nước.
Chiến công lẫy lừng nhất của Lý Thường Kiệt là công cuộc chống Nhà Tống phương Bắc. Năm 1075, Nhà Tống có ý định xâm chiếm nước ta nên xúi giục các châu sát biên giới Đại Việt quấy phá. Khi ấy, Vua Lý Nhân Tông còn nhỏ tuổi. Thái hậu Ỷ Lan với quyền nhiếp chính bèn sai Lý Thường Kiệt đem quân đánh Nhà Tống trước để phá hủy kế hoạch xâm lăng của họ.
Lý Thường Kiệt cùng Tôn Đản đem 10 vạn quân đi đánh. Tôn Đản chỉ huy đường bộ tiến đánh Ung Châu. Lý Thường Kiệt mang quân theo đường thủy tiến đánh Khâm châu và Liêm châu.
Sau khi chiếm được Khâm châu, Liêm châu và Ung châu, Lý Thường Kiệt cho quân phá hủy thành lũy để gây khó khăn cho quân Tống tập hợp sang xâm lăng nước ta. Sau đó Lý Thường Kiệt rút quân về nước.
Năm 1076, Nhà Tống sai Quách Quỳ và Triệu Tiết đem quân sang đánh nước ta để báo thù. Lý Thường Kiệt đã chuẩn bị sẵn và phòng thủ khắp nơi. Quân Tống tiến công khó khăn và bị tổn thất rất nhiều.
Lý Thường Kiệt nhận thấy tình thế quân Tống đã lâm vào thế tiến thối lưỡng nan và cũng để tránh cho dân chúng khỏi bị khổ sở vì chiến tranh liên miên, ông sai sứ sang xin nghị hòa để quân Tống rút về. Nhà Tống không thể thắng Đại Việt nên đành chấp nhận rút quân về.
Năm 1103, khi ấy đã 84 tuổi, Lý Thường Kiệt còn tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn Châu. Năm 1104, ông đem quân đi dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính.
Tháng 6 năm 1105, Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 86 tuổi.
Ngày nay Lý Thường Kiệt được nhớ đến như vị anh hùng duy nhất của nước ta đem quân đánh sang phương Bắc để chứng tỏ uy thế của một quốc gia hùng mạnh và có chủ quyền.