Hồ Chí Minh và những chân lý không thể chối cãi
Ngày nay có ai trên thế giới còn nhớ đến dáng người thanh mảnh như trong huyền thoại, ăn mặc giản dị, đứng cao vời vợi ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 02 tháng 9 năm 1945 và tuyên bố vào một giây phút huy hoàng.
“Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. “Tôi nói đồng bào có nghe rõ không?”
“Có”, quần chúng đồng thanh trả lời.
Sau khi đưa ra những lời nói lừng danh thế giới trong Tuyên bố Độc lập của Mỹ năm 1776, Người đã chuyển sang trích dẫn Tuyên bố của Cách mạng Pháp năm 1789 về quyền công dân và con người.
Con người sinh ra phải được tự do và hưởng quyền bình đẳng. Đó là những chân lý không thể chối cãi và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quần chúng ủng hộ việc khẳng định các mục tiêu đó.
Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc. Sinh ra ở miền Trung nước Việt, Người rời Sài Gòn năm 1911, không phải để đi Nhật như những người bất đồng chính kiến thời ấy vẫn thường làm mà sang Pháp để học tập trên đất nước của tự do, bác ái và bình đẳng.
Nhưng cuộc hành trình khắp thế giới không ngừng gợi lên trong trí óc Người những trăn trở. Các hải cảng Châu Phi, Địa Trung Hải, các thành phố Hồng Kông, Xin-ga-po, Niu-oóc, Luân Đôn và Pa-ri, Người đã nhìn thấy tất cả những nơi ấy. Người nói thứ tiếng của họ. Người tiếp thu các câu chuyện của các chủng tộc khác nhau. Người thường lui tới các câu lạc bộ công nhân và học được tại chỗ những thử nghiệm của người dân thuộc địa tại các nước đó. Trong suốt thời gian ấy, Người đã nhận thấy các lập trường và thái độ khác biệt của người Châu Á và Châu Phi đối với các ông chủ da trắng.
Tại Pa-ri, khi được trao cho một bản cuốn sách của Lênin “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. Người chuyên tâm nghiên cứu các vấn đề của nước Việt Nam thuộc địa.
Người đã nghiên cứu cả lý luận cách mạng và cùng làm việc với các nhà cách mạng Trung Hoa tại Pa-ri. Năm 1923, Người dự Hội nghị Nông dân Quốc tế đầu tiên tại Mát-xơ-cơ-va và ở lại đó 3 năm. Năm 1938, Người sống tại Trung Quốc và năm 1941 về hẳn Việt Nam.
Sau ba mươi năm ở hải ngoại vị lãnh tụ cách mạng luôn mai danh ẩn tích, Người vốn là một người dân An Nam khốn khổ, đã thu được vô vàn kinh nghiệm và đã thông thuộc mọi chế độ thực dân, tư bản, xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Giống như M. Gan-di, nhà trí thức khiêm nhường này tránh mọi phô trương lòe loẹt và sống một cuộc sống giản dị. Giống như Tôn Dật Tiên, bị coi là “một tội phạm” trong thời kỳ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh cũng đã trở lên khôn khéo hơn và triệt để hơn sau những năm tháng gian lao.
Thế nhưng, sau bức kiến nghị chân thành gửi đến các cường quốc tại Hội nghị hòa bình Véc-xây năm 1919, Người có thể thu hút sự chú ý của các đồng minh đang chiến đấu ở Châu Âu và Châu Á, đến tình cảnh đặc biệt của Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập.
Người là một học giả và một người ấp ủ những giấc mơ. Người đã học Hiến chương Đại Tây dương tháng 8 năm 1941, do Ru-dơ-ven và Sớc-sin công bố, hứa hẹn tôn trọng quyền của tất cả các dân tộc. Người hiểu tất cả các dân tộc là bao gồm dân tộc mình. Những quan điểm chống thực dân của Ru-dơ-ven đã từng nổi tiếng và thái độ không nhất quán của ông ta đối với người Pháp ở Việt Nam đã được ghi chép trong hồ sơ Quốc hội Mỹ. Sau khi chiến tranh kết thúc, người Mỹ hứa trả lại tự do cho Phi-líp-pin. Điều đó không thể xảy ra ở Việt Nam ư? Cái chết của Ru-dơ-ven, những bận tâm sau chiến tranh của Châu Âu và cuối cùng, những biến đổi chính trị đang đe dọa Trung Quốc, đã làm giảm bớt cơ hội để Việt Nam được độc lập. Điều không thể tránh khỏi là sự chú ý của các đồng minh trước đây đã tập trung vào một thế giới khác, giờ đây mang màu đỏ hay màu trắng. Phong trào dân tộc chủ nghĩa của Việt Nam được gắn cho cái nhãn hiệu “cộng sản”. Phải đập tan chứ không chỉ ngăn chặn mà thôi. Chính sách của Mỹ chuyển phắt từ cổ vũ sang nhập nhằng, sang hòa giải và cuối cùng sang can thiệp. Những hậu quả đã quá nhiều người biết đến và quá đau đớn cho nên không thể lặp lại một lần nữa. Đối với mọi bên – Việt Nam, Pháp và Mỹ đã mất quá nhiều năm tháng, quá nhiều sinh mệnh.
Hồ Chí Minh có phải là nạn nhân của những trớ trêu lịch sử không? Những thăng trầm của các bậc vĩ nhân chăng? Phải chăng Người đã nói lên những lời đúng vào một thời điểm sai? Phải chăng nền độc lập của dân tộc Người, nỗi trăn trở của Người, không quan trọng bao nhiêu so với bức tranh toàn cầu lớn hơn vào năm 1945 và do đó, phải giao lại cho người Pháp xử lý? Nhưng hồi đó, người Pháp đã không làm được và sau này người Mỹ cũng không làm được, bởi vì cả Pháp lẫn Mỹ đều không công nhận phong trào dân tộc của Việt Nam, xuất phát từ sự bất mãn tột độ của một dân tộc bị nô dịch. Cả Pháp lẫn Mỹ đều thiết tha và cổ súy chiêu bài về các nguyên tắc dân chủ dành riêng cho chúng nhưng lại không chịu chia sẻ với người khác, những người chân thành tìm kiếm quyền tự quyết. Người Mỹ chúng tôi có những anh hùng: Pa-tơ-rích Hen-ri Na-tan Han và vị tướng lĩnh cách mạng vĩ đại Gio-óc-giơ Qa-sinh-tơn. Người Việt Nam cũng có anh hùng, đó là Hồ Chí Minh và những người ủng hộ Người.
Đối với Hồ Chí Minh, Người đã không nhìn thấy giấc mơ của mình trở thành sự thật, nhưng Người đã để lại trong trái tim dân tộc Người tinh thần bất khuất của Người.
(Mun-Lơ Hê-Len(3), đăng trên Báo Nhân dân số ra ngày 18 tháng 4 năm 1990)
Theo Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đức Lâm